Có những nước mà phần đất nhỏ xíu nhưng phần biển thuộc quyền tài phán lại rộng hơn cả lãnh thổ của nhiều nước lục địa cỡ vừa. Đó là đặc quyền lớn nhất mà kiểu hình đảo quốc mang lại, và cũng là nguồn gốc của phần lớn tranh chấp mà đảo quốc vướng phải.
- Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 quy định lãnh hải rộng tối đa 12 hải lý và vùng đặc quyền kinh tế tối đa 200 hải lý tính từ đường cơ sở.
- Trong vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia ven biển có quyền chủ quyền về thăm dò và khai thác tài nguyên, nhưng không có chủ quyền đầy đủ như trên lãnh thổ.
- Nhờ hai quần đảo Azores và Madeira, Bồ Đào Nha có vùng biển thuộc quyền tài phán vào loại rộng nhất Liên minh châu Âu.
- Tranh chấp thềm lục địa giữa Malta và Libya đã được đưa ra Toà án Công lý Quốc tế và có phán quyết năm 1985.
Đất ít, biển nhiều: phép nhân của đảo
Bắt đầu từ cơ chế.
Mỗi điểm đất nổi hợp lệ đều kéo theo một vùng biển quanh nó.
Một quần đảo rải rộng vì thế sinh ra vùng biển lớn hơn nhiều so với một khối đất gọn cùng diện tích.
Bồ Đào Nha là ví dụ rõ nhất ở châu Âu nhờ Azores nằm giữa Đại Tây Dương.
Tây Ban Nha cũng mở rộng đáng kể phần biển của mình nhờ Canarias ngoài khơi châu Phi.
Hy Lạp với hàng nghìn đảo rải khắp Aegean là trường hợp phức tạp nhất trong khu vực.
Hệ quả trực tiếp của phép nhân này rất đáng chú ý: vị trí của một hòn đảo nhỏ có thể có giá trị chiến lược lớn hơn nhiều lần giá trị của chính hòn đảo đó.
Đảo và đá: một phân biệt pháp lý có hậu quả rất lớn
Phần luật.
Công ước Luật Biển phân biệt đảo với cái mà công ước gọi là đá.
Đảo duy trì được cư trú của con người hoặc đời sống kinh tế riêng thì sinh cả vùng đặc quyền kinh tế lẫn thềm lục địa.
Đá không duy trì được điều đó thì chỉ có lãnh hải, không sinh vùng đặc quyền kinh tế.
Ranh giới giữa hai khái niệm này được diễn giải rất khác nhau giữa các bên tranh chấp.
Vì thế nhiều tranh chấp biển thực chất là tranh cãi về việc một mỏm đất là đảo hay là đá.
Đây là chỗ luật biển có sức nặng thực tế lớn nhất: một chữ trong định nghĩa quyết định hàng trăm nghìn kilômét vuông biển thuộc về ai.
Vùng đặc quyền kinh tế không phải lãnh thổ
Phần làm rõ hay bị hiểu nhầm.
Trong vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia ven biển có quyền chủ quyền về tài nguyên.
Nhưng tàu thuyền nước khác vẫn có quyền tự do hàng hải qua vùng này.
Máy bay nước khác vẫn có quyền bay qua.
Việc đặt cáp và ống dẫn ngầm cũng được phép, với một số điều kiện.
Chỉ trong lãnh hải 12 hải lý thì chủ quyền mới gần như đầy đủ.
Phân biệt này quan trọng khi đọc tin tức: một tàu nước ngoài đi qua vùng đặc quyền kinh tế không phải là xâm phạm, nhưng một tàu nước ngoài thăm dò trong đó thì là chuyện khác hẳn.
Tài nguyên: cá, khí và cáp
Phần nội dung kinh tế.
Nghề cá là giá trị cổ điển nhất của vùng biển, và cũng là nguồn xung đột lâu đời nhất.
Dầu khí dưới đáy biển là thứ làm phân định biển trở nên gay gắt trong nửa thế kỷ gần đây.
Ngoài khơi Síp đã có các phát hiện khí tự nhiên và các lô thăm dò được cấp phép.
Tuyến cáp viễn thông ngầm chạy qua vùng biển đảo quốc cũng là một loại tài sản chiến lược.
Điện gió ngoài khơi đang thành lớp giá trị mới trên cùng những vùng biển đó.
Điểm chung của cả bốn thứ này là chúng đều nằm dưới hoặc trên mặt nước chứ không nằm trên đất: với đảo quốc, tài nguyên quốc gia chủ yếu không nằm trong lãnh thổ theo nghĩa thông thường.
Vì sao đảo quốc hay vướng tranh chấp phân định
Phần địa chính trị.
Ở vùng biển hẹp, vòng 200 hải lý của các bên chồng lên nhau và phải phân định.
Biển Aegean và đông Địa Trung Hải là hai vùng chồng lấn điển hình.
Hy Lạp đã ký thoả thuận phân định vùng biển với Ý và với Ai Cập trong năm 2020.
Quan hệ giữa Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ về phân định Aegean thì vẫn chưa có thoả thuận chung.
Malta và Libya từng đưa tranh chấp thềm lục địa ra Toà án Công lý Quốc tế, có phán quyết năm 1985.
Điều đáng ghi nhận là các bên vẫn thường chọn con đường pháp lý: vụ Malta với Libya cho thấy một nước rất nhỏ có thể đối diện một nước lớn hơn nhiều tại toà quốc tế và nhận được phán quyết.
Quản lý một vùng biển rộng tốn kém thế nào
Phần mặt trái.
Có quyền trên một vùng biển và kiểm soát được vùng biển đó là hai việc khác nhau.
Tuần tra, cứu hộ và chống đánh bắt trái phép đều cần tàu, máy bay và nhân lực.
Một nước nhỏ hiếm khi đủ nguồn lực để bao quát vùng biển mà luật trao cho mình.
Vì thế hợp tác khu vực và giám sát bằng vệ tinh trở thành lựa chọn bắt buộc.
Trách nhiệm tìm kiếm cứu nạn trên vùng biển rộng cũng là gánh nặng thực tế.
Đây là nghịch lý cốt lõi của kiểu hình này: đảo quốc được luật trao cho vùng biển lớn nhất so với quy mô dân số, nhưng lại là nhóm ít có khả năng tự quản vùng biển đó nhất.
Ý nghĩa với người tìm hiểu để đầu tư hay làm việc
Phần thực dụng.
Ngành hàng hải, cảng biển và dịch vụ tàu là thế mạnh tự nhiên của đảo quốc.
Đăng ký tàu biển là một ngành dịch vụ thật của nhiều nước có truyền thống hàng hải.
Nghiên cứu biển và thuỷ sản là lĩnh vực có nhu cầu nhân lực ổn định ở các nước này.
Năng lượng ngoài khơi là lĩnh vực đang mở, gắn với chính sách từng nước.
Mọi điều kiện cấp phép, thuế và thủ tục phải tra ở cơ quan quản lý của chính nước đó.
Cách nhìn đúng khi đánh giá một đảo quốc về mặt kinh tế là: đừng chỉ nhìn diện tích đất, hãy nhìn vị trí của nó trên các tuyến biển và độ rộng vùng biển nó quản.
Vùng đặc quyền kinh tế là chỗ kiểu hình đảo quốc lật ngược hoàn toàn cảm giác thông thường về lớn và nhỏ. Trên bản đồ đất liền, đảo quốc là những chấm nhỏ; trên bản đồ biển, chúng là những khối rộng. Mọi phân tích về một quốc gia đảo mà chỉ dừng ở diện tích đất đều bỏ sót phần lớn câu chuyện.
Vùng đặc quyền kinh tế rộng bao nhiêu?
Theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982, vùng đặc quyền kinh tế rộng tối đa 200 hải lý tính từ đường cơ sở, còn lãnh hải rộng tối đa 12 hải lý. Trong vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia ven biển có quyền chủ quyền về tài nguyên nhưng không có chủ quyền đầy đủ như trên lãnh thổ.
Đảo và đá khác nhau thế nào theo luật biển?
Đảo duy trì được cư trú của con người hoặc đời sống kinh tế riêng thì sinh cả vùng đặc quyền kinh tế lẫn thềm lục địa; còn cái mà công ước gọi là đá thì chỉ có lãnh hải. Ranh giới này được diễn giải rất khác nhau giữa các bên, nên nhiều tranh chấp biển thực chất là tranh cãi một mỏm đất là đảo hay là đá.
Tàu nước ngoài đi qua vùng đặc quyền kinh tế có vi phạm không?
Không — quyền tự do hàng hải và tự do bay qua vẫn được giữ trong vùng đặc quyền kinh tế, việc đặt cáp và ống ngầm cũng được phép với một số điều kiện. Chỉ trong lãnh hải 12 hải lý thì chủ quyền mới gần như đầy đủ. Thăm dò tài nguyên trong vùng thì lại là chuyện khác.
Nước nhỏ có tự quản được vùng biển rộng của mình không?
Rất khó. Tuần tra, cứu hộ và chống đánh bắt trái phép đều cần tàu, máy bay và nhân lực mà một nước nhỏ hiếm khi có đủ, nên hợp tác khu vực và giám sát vệ tinh trở thành lựa chọn bắt buộc. Đó là nghịch lý của kiểu hình đảo quốc: được trao vùng biển lớn nhất so với dân số nhưng ít khả năng tự quản nhất.